‘BÍ TIỂU SAU SANH’ Thông tin cần biết

                                                  Bí tiểu sau sanh

 Mục tiêu :

1/ Nhận biết bí tiểu sau sanh

2/ Biết các yếu tố nguy cơ gây bí tiểu sau sanh

3/ Dự phòng bí tiểu sau sanh

4/ Biết một số phương pháp điều trị

 

Thông thường sau sinh được khoảng từ 6 – 8 tiếng thì tất cả các sản phụ đều đã đi tiểu ít nhất
là 1 lần.Nếu sau khi sinh hoặc sau khi rút sonde tiểu đã 6 giờ, nước tiểu tồn lưu trong bàng quang > 150ml mà sản phụ vẫn chưa đi tiểu được gọi là chứng bí tiểu sau sinh ( BTSS)

Bí tiểu sau khi sinh (BTSS) không chỉ gây đau trướng bụng dưới mà còn có thể dẫn đến nhiễm khuẩn đường tiết niệu, ảnh hưởng đến sự phục hồi tử cung sau khi sinh, dẫn đến mất máu nhiều sau khi sinh. BTSS tuy không gây nguy hiểm nhưng gây nhiều khó chịu về vận động và cảm giác cho người mẹ.

Tần suất mắc bệnh khoảng 1,7 – 17%

Yếu tố nguy cơ :

  • Chuyển dạ giai đoạn 1 và 2 kéo dài.
  • Mổ lấy thai khi chưa vào chuyển dạ.
  • Sinh giúp bằng kềm hoặc giác hút.
  • Tê ngoài màng cứng trong đẻ không đau.
  • Chấn thương âm hộ, tầng sinh môn.
  • Căng bàng quang quá mức trong suốt quá
    trình chuyển dạ.
  • Sinh con to

 

Nguyên nhân :

1/ Bàng quang (BQ)căng quá mức → lớp cơ BQ mất khả năng co bóp, tê liệt thần kinh mất
phản xạ → đi tiểu khó khăn → bí tiểu.
2/ Đau ở vết may TSM →hạn chế phản xạ co bóp lớp cơ đường tiểu, làm cho đi tiểu khó khăn→ bí tiểu.
3/ Chuyển dạ kéo dài: thời gian thai nhi chèn ép lên bàng quang quá lâu gây ra phù bàng
quang và đường tiểu làm cho đi tiểu bị trở ngại → bí tiểu.
4/ Nhiễm trùng niệu đạo làm cho niệu đạo phù nề, sung huyết → bí tiểu.

Dấu hiệu nhận biết:

+ Cảm giác căng tức và khó chịu vùng bụng dưới. Cảm giác mắc tiểu nhưng không tiểu được.

+ Khó khăn trong việc đi tiểu: tiểu ngắt quãng, chậm tiểu khi bắt đầu, tiểu không hết. Rỉ nước tiểu do bàng quang quá căng.

+ Khám lâm sàng: bụng mềm, vùng dưới rốn ngoài khối cầu an toàn đó là khối tử cung co hồi tốt còn có một khối cầu khác đó là cầu bàng quang, ấn vào cảm giác căng tức.
Nguyên tắc xử trí :

  • Tập đi tiểu để tạo lại phản xạ đi tiểu
  • Dùng thuốc kháng sinh chống nhiễm trùng.
  • Dùng thuốc kháng viêm chống phù nề chèn ép vào cổ bàng quang.
  • Hỗ trợ tăng cường trương lực bàng quang giúp khả năng co bóp bàng quang trở lại bình thường.

Dự phòng:

1/ Trong quá trình chuyển dạ

  • Khuyến khích người mẹ tự tiểu trong suốt quá trình chuyển dạ. Nên ghi nhận vào hồ sơ về thời gian tiểu và lượng nước tiểu ước tính.
  • Nếu sản phụ không tự tiểu được cần đặt sonde tiểu mỗi 4 giờ, ghi nhận lượng nước tiểu.
  • Nếu sau khi đặt sonde tiểu hai lần vẫn chưa gần sinh, nên đặt sonde tiểu lưu.

2/ Ngay sau sanh

Khuyến khích người mẹ sau sinh vận động sớm, tự đi tiểu không nên lo sợ đau đớn đối với vết may tầng sinh môn.

Tập rặn tiểu bình thường theo tư thế tiểu tự nhiên.Uống nhiều nước vào ban ngày (#2lít), không nên nín tiểu.

Vệ sinh vùng âm hộ sạch sẽ bằng nước sạch hoặc nước rửa vệ sinh phụ khoa. Luôn luôn giữ khô vùng âm hộ, tránh nhiễm trùng vết may tầng sinh môn.

Nên đi tiểu thường xuyên mỗi 2 – 3 giờ để ngăn ngừa bàng quang quá đầy.Luôn luôn giữ khô vùng âm hộ, tránh nhiễm trùng vết may tầng sinh môn.

Chế độ dinh dưỡng đầy đủ giúp phục hồi sức khỏe sau sinh, cũng như cung cấp sữa mẹ cho con bú được đầy đủ. Giữ tinh thần thư thái, thoải mái.

Nên lưu sonde tiểu 6 giờ sau sinh, khi có những yếu tố nguy cơ:

  • Sinh giúp bằng kềm hoặc giác hút.
  • Tê ngoài màng cứng trong đẻ không đau.
  • Phù nề âm hộ, tầng sinh môn. Rách TSM phức tạp.
  • Căng bàng quang quá mức trong suốt quá trình chuyển dạ.
  • Sinh con to.
  • Sau mổ lấy thai nên lưu sonde tiểu tối thiểu 12 giờ.

Lưu ý :

Sản phụ sau khi sinh được 8 tiếng nếu đã cố gắng đi tiểu nhưng không tiểu được thì cần báo cho bác sỹ để các bác sỹ kiểm tra và có biện pháp can thiệp kịp thời

 

 

 

Tài liệu tham khảo

  1. Abrams P, Cardozo L, Fall M, Griffiths D, Rosier P, Ulmsten U, et al (2012). The Standardisation of Terminology of Lower Urinary Tract Function: Report from the standardisation Sub-committee of the International Continence Society. Neurourology and Urodynamics.
  2. Ngô Gia Hy (1982). Đái không kiểm soát trong niệu học. Nhà xuất bản Y học.
  3. Ngô Gia Hy (1983) Niệu học tập III: Sinh lý và sinh lý bệnh đường tiểu ;Nhà xuất bản Y học.
  4. Ngô Gia Hy (1980). Bọng đái hỗn loạn thần kinh do chấn thương trong niệu học; Nhà xuất bản Y học.
  5. Jane Shields RN, RM (2012). Prevention of Female Urinary Incontinence – post Birth and Post Surgery.
  6. Up to date 2012
  7. Royal Cornwall Hospital NSH- 2012. Clinical guideline for intrapartum and post partum bladder care.
  8. Yip, S., Sahota, D. & Pang, M. (2005). Postpartum urinary retention. Obstetrics & Gynecology,
  9. Yip, S., Sahota, D., Pang, M. & Chang, A. (2004). Postpartum urinary retention.
  10. Rizvi RM, Khan ZS, Khan Z (2005). Diagnosis and management of postpartum urinary retention. International Journal of Gynecology and Obstetrics.

 

 

 

 

Leave a Reply